PDA

View Full Version : "MỰC TÀU GIẤY ĐỎ" VÀ THÚ CHƠi CHỮ CỦA NGƯỜI XƯA



tongcoc
14-02-2010, 10:25 PM
Nguyễn Tri Thứ
Đông tàn Xuân khai – Năm hết Tết đến!

Lại “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ. Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”. Và thấp thoáng đâu đây bóng dáng những ông đồ già ngồi viết câu đối Tết – lời chúc lành đầu năm cũng là mong ước thầm lặng của mọi người:

“Niên tăng phú quư nhân tăng thọ
Xuân măi càn khôn phúc măn đường”
(Năm thêm giàu sang người thêm thọ
Xuân khắp trời đất phúc đầy nhà)
Câu đối Tết vốn có từ lâu đời ở Trung Hoa. Theo sách Sơn Hải Kinh, nó bắt nguồn từ tục làm “đào phù”, là khắc hay vẽ lá bùa lên tấm gỗ đào, hoặc giản dị hơn là khắc tên hai vị thần: Thần Trà và Quách Lũy rồi treo lên cửa sau ngày tiễn ông Táo về trời. Mọi người đều tin nhờ làm vậy mà suốt năm gia đ́nh mới được yên ổn, chẳng một ai quên hay dám bỏ qua tục lệ ấy cả. Về sau “đào phù” đă phát triển thành câu đối Tết và tranh Tết (dùng h́nh vẽ thay cho chữ viết). H́nh thức này cũng khá phổ biến. “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” là mảng tranh Tết của nước ta một thời rất được dân gian yêu chuộng.

http://farm5.static.flickr.com/4047/4356759178_6ee5f3b24f.jpg (http://farm5.static.flickr.com/4047/4356759178_fe698c0efb_o.jpg)

Trở lại câu đối Tết, theo Tống sử Thục thế gia, câu đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Xưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959: “Tân niên khai dư khánh. Giai tiết hạ trường Xuân” (Năm mới mở tiệc vui. Tiết Xuân c̣n đẹp măi).

Hơn cả những lúc “trà dư tửu hậu”, Tết là dịp mà các nhà nho của ta có hứng thú nhiều nhất, làm được nhiều câu đối hay nhất, nhưng chẳng phải để chúc ai mà than văn tự đối ḿnh bằng những lời chua chát, bỡn cợt:

“Nhập thế cục khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng húng hắng vài câu
Huống chi ḿnh đỗ tú tài
Ngày Tết cũng phải một vài câu đối”
Chỉ v́ không lẩn tránh được mỗi cái hiện thực:

“Duột trời ngất một cây nêu, hết tối ba mươi ǵ cũng Tết
Vang đất ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một thế là Xuân”
(Của Trần Tế Xương)
Và đă vậy th́ dẫu:

“Chiều ba mươi nợ hỏi thế nào (cũng) co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một Tết rượu say túy lúy (cứ) ra cửa giơ tay bồng ông phúc vào nhà”
như Nguyễn Công Trứ đă tự đối ḿnh lúc c̣n hàn vi. Có khi v́ “chướng mắt” bởi cái “thói đời” rất dễ gặp, kiểu “trưởng giả học làm sang” rồi diễu cợt, sánh ví một cách đầy cao ngạo:

“Họ lịch sự như tiên, phú quư như trời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngơ liễu
Ta trồng cỏ đầy vườn, văi hoa đầy đất, gọi hề đồng gánh nước tưới hiên mai”
Câu đối Tết nói riêng hay câu đối nói chung là thú vui, cách tiêu khiển và cũng là dịp để đấu trí thi tài, bộc lộ tính thông minh, sự nhạy bén của nhau. Không chỉ giới “mày râu” mà đến cả những khách “quần hồng” cũng đă từng làm sôi nổi trên “trường văn trận bút”. Không ít giai thoại đă viết về giới này, chẳng hạn “Da trắng vỗ b́ bạch” là câu thách đối của Đoàn Thị Điểm, Trạng Quỳnh không đối được. Một câu khác cũng của bà: “Cây xương rồng trồng đất rắn, long vẫn hoàn long”. Lần này Trạng Quỳnh đă đối lại thật hay: “Quả dưa chuột tuột thẳng gan, thử chơi th́ thử”.

Chuyện Hồ Xuân Hương tinh nghịch trêu ghẹo Chiêu Hổ: “ Mặc áo Giáp cài chữ Đinh khoe rằng ḿnh Quư” đă bị ông ấy “trả đũa” khá đau: “Làm đĩ Càn tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn”. Sáu Can của thập Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh… được đối lại bởi sáu trong tám cung: Càn, Khảm, Cấn, Chấn… Vận dụng nhanh nhạy và “chơi chữ” hay đến thế là cùng. Có Tết nào câu đối ấy chẳng là chuyện vui. Truyện kể tiếp về Hồ Xuân Hương: Một lần v́ trời mưa trơn trợt mà bị té ngă sóng soài, nhằm lúc một tốp đàn ông đi qua (v́ biết là Hồ Xuân Hương) nên họ cố t́nh cười cợt thỏa thích. Để đáp lại đám người bà cho là “vô tích sự” ấy, Hồ Xuân Hương thản nhiên tức cảnh:

“Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”
Nào phải không ư tứ mà trượt ngă, chẳng qua là v́ muốn biết “trời bao xa đất bao dài” vậy thôi.

Câu đối – thú “chơi chữ” của người xưa là muôn màu muôn vẻ. Lúc nghiêm trang (đầy tính chất bác học): “Đạo thông thiên địa hữu h́nh ngoại. Trí nhập phong vân biến thái trung” – (Đạo suốt cả trời đất, thấu đến cả muôn vật hữu h́nh. Trí đẹp ḥa vào gió mây luôn nhiều h́nh nhiều vẻ) dành chúc cho những người có học vị cao. Khi bông đùa cợt nhả: “Nhất cận thị nhị cận giang thử địa phong giai tị cốc” – (Sống ở làng sang ở nước mừng ông nay lại vểnh râu tôm) là câu của cụ Yên Đổ mừng vị chánh tổng trước bị cách chức nay phục chức, làm nhà mới. Nói đến “chơi chữ” không thể không nhắc đến một câu đối cũng của cụ, viết cho vợ người thợ nhuộm khóc chồng, mà nói về màu sắc tưởng không một câu nào khác hay hơn: “Thiếp từ lá thắm xe duyên khi vận tía lúc con đen điều dại điều khôn nhờ bố đỏ. Chàng ở suối vàng có biết vợ má hồng con răng trắng tím gan tím ruột với trời xanh.

Cũng ngày Xuân dịp Tết, Cao Bá Quát đến chơi nhà người bạn (có nuôi nhiều vịt). V́ thích ăn thịt giống vật này nên không ngần ngại bảo bạn ḿnh hăy giết vịt đi. Bạn ông nói đùa, giết th́ dễ nhưng nó mắc phải tội ǵ mới được, không khéo nó lại bảo ḿnh bị chết oan, vậy ông thử tuyên án xem sao? Chẳng cần suy nghĩ, Cao Bá Quát liền cao giọng đọc ngay: “Ba lăng độ hà vô tuân quốc pháp. Lôi đ́nh tự dược bất úy thiên oai” – (Sóng gió vẫn lội sông không tuân phép nước. Sấm chớp c̣n vượt suối chẳng sợ oai trời). Bơi lội lặn hụp là bản năng của vịt, hóa ra nó lại “phạm” toàn những tội tày trời.

H́nh thức thể loại câu đối cũng rất đa dạng. Nào đối thách (đối hay đố). Lối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ đồng âm dị nghĩa: “Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch tới già”. Được đối lại bởi: “Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại”. Bốn chữ cóc, cách, cọc, cạch đối với công, kênh, cồng, kềnh. Câu nói lái: “Con chim vàng lông đáp tựa vồng lang”. “Con mỏ kiến nằm trên miếng cỏ”. “Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo”… Câu chữ Hán đọc xuôi, đọc ngược thành chữ Nôm mà ư nghĩa hoàn toàn khác hẳn: “Oanh đề phượng ngă nghinh hoa trướng…” (Oanh hót, phượng nói, đón trướng hoa – ư nghĩa rất trang trọng). Nhưng nếu đọc ngược thành ư trêu chọc nghịch ngợm: “Trướng hoa nghiêng ngă phượng đè oanh”. Câu mừng đám cưới con nhà sang của cụ Yên Đổ, câu bỏ dở giữa chừng, muốn hiểu sao cũng được: “Mừng cho quan lớn sinh đặng một trai. Nuôi cho mau lớn để đi ăn cướp…”. Khó ai mà biết được dụng ư lẫn thâm ư của người làm câu đối này: Cướp??? “Cướp đặng công danh mới gọi tài” (Tương truyền là của Trạng Quỳnh và câu trả lời của ông sau khi bị quan tra hỏi cật vấn). Một câu khác cùng thể loại: chuyện kể về vua Lê Thánh Tôn với cô gái xinh đẹp đang ngồi vút gạo, vua ướm lời chọc ghẹo: “Gạo trắng nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả…”. Cô gái dè dặt đáp lời (thâm ư c̣n hơn cả vị minh quân kia): “Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hăy lo cho…”. Một đằng mến cảnh… càng thêm mến cả (em). C̣n một đằng lo đời… hăy lo cho (???). Cũng có thể là lo cho em với, cũng có thể là đừng măi lo việc nước mà quên… hăy lo cho ḿnh với. Khéo không c̣n chỗ để khéo hơn!

Khó nhất trong câu đối vẫn là câu chiết tự (loại này rất hiếm gặp). “Chiết” là bẻ găy, “Tự” là chữ, là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm thành từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu: “Tự là chữ, cắt đằng đầu chữ tử là con, con ai con nấy”. Được đối lại bởi: “Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ Đinh là đứa, đứa nào đứa nấy”. Một câu khác gay go hơn: “Thập, khẩu, tâm, tư -> Tư quốc tư gia tư phụ mẫu”. Được đối lại bởi: “Thốn, thân, ngôn, tạ -> Tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương”.

Năm hết Tết đến, ngồi ôn lại một số giai thoại về câu đối của người xưa – cái tinh hoa của nền cổ học – là đang trên đường về lại với cội nguồn: “Có tôn, có tổ, có tổ, có tôn, tôn tổ, tổ tôn cũ. C̣n nước, c̣n non, c̣n non, c̣n nước, nước non, non nước, nước non nhà” - Chốn ấy chẳng của riêng ai, bởi “Mộc hữu thiên điều uất uất ṭng bổn nhi sanh. Thủy lưu vạn phái thao thao do nguyên sở xuất” – Cây dẫu có trăm cành nhưng cũng từ một gốc. Nước có muôn suối vạn sông cũng do một nguồn đổ xuống.

Tết vui khắp mọi nhà! “Năm cọp” dẫu dữ dằn nhưng tại sao không thể:

“Tân niên khánh hỷ tăng tài lộc
Xuân tiết hoan nghênh chúc thọ khang”
Dành để chúc nhau và là quà Tết cho nhau vậy!


Tháng 10/2009
Nguồn: Tủ sách Nhớ Huế