+ Trả Lời Đề Tài
kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Đề tài: Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867)

  1. #1
    Tham gia ngày
    24-02-2009
    Bài gởi
    43
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867)


    Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867)

    H́nh chụp tại Paris năm 1863 nhân dịp ông cầm đầu sứ bộ sang Pháp để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Ở Pháp cả hai tháng mà không gặp được vua Napoléon III, ông đành trở về Việt Nam với vài lời hứa hẹn của Pháp, nhưng khi về tới Việt-Nam th́ Pháp đă đánh chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây !

    Vua bổ trách nhiệm cho ông trấn thủ miền Nam, tới năm 1867 th́ toàn lănh thổ của Nam Kỳ rơi vào tay của người Pháp. Không hoàn thành sứ mạng, ông uống thuốc độc tự tử chết sau khi để di chúc lại cho con cháu và khuyên là không nên làm chánh trị !

    H́nh c̣n tàng trữ tại Bảo tàng viện Nhân-chủng-học của Paris.

    Nguồn http://nguyentl.free.fr

  2. #2
    Tham gia ngày
    24-02-2009
    Bài gởi
    43
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default

    Phan Thanh Giản tự là Tịnh Bá và Đạm Như; hiệu Lương Khê và Mai Xuyên. Ông sinh ngày 12 tháng 10 âm lịch (Bính Th́n) tức 11/11/1796, tại làng Tân Thanh, huyện Vĩnh B́nh, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, sau đổi thành làng Bảo Thạnh, tổng Bảo Tự, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Tổ tiên ông vốn người Trung Quốc sang sống ở Việt Nam từ cuối đời Minh, lập nghiệp ở tỉnh B́nh Định. Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn lan rộng khắp nơi. Ông nội của ông đem gia quyến vào sinh sống tại Thang Tông (Định Tường) rồi dời đến xóm Măng Thít làng Mỹ Thạnh Trung, Vũng Liêm, Vĩnh Long. Cuối cùng gia đ́nh ông định cư tại làng Tân Thạnh, Bến Tre thuộc Vĩnh Long bấy giờ.

    Mẹ mất sớm lúc ông mới lên 7 tuổi. Ông cùng với hai em về nương náu bên ngoại. Tại đây, ông bắt đầu học vỡ ḷng chữ Nho với vị sư trụ tŕ chùa Phú Ngăi tên là Nguyễn Văn Noa.

    Khi thân phụ ông là Phan Thanh Xán, đang làm thủ hiệu Pḥng Công chánh Vĩnh Long bị lỗi thời v́ chuyện thuế má phải chịu một năm tù; Phan Thanh Giản đến cửa quan xin chịu tội thay cha. Việc làm này của ông đă gây xúc động cho nhiều người nên sau khi ông Xán măn hạn tù, Phan Thanh Giản được lưu lại ăn học tại Vĩnh Long với sự trợ giúp của Hiệp Trấn Lương và bà quả phụ Nguyễn Thị Ân.

    Năm 1825 (ất Dậu) Minh Mạng thứ 6, ông đi thi Hương tại Gia Định đậu cử nhân. Năm sau (1826) ông đỗ tiến sĩ kỳ thi Hội tại Kinh. Phan Thanh Giản là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của Nam bộ.

    Ngay sau khi đỗ tiến sĩ ông được cử làm Hàn Lâm Viện Biên tu, chức lang Trung bộ H́nh, rồi làm Tham biện Quảng B́nh. Năm 1828, ông giữ Quyền Hiệp trấn Nghệ An rồi Hiệp trấn Quảng B́nh. Năm 1829, ông được cử làm Phủ doăn Thừa Thiên. Thời gian sau ông được cử làm Thị lang Bộ Lễ làm việc ở nội các rồi lại tái nhậm Hiệp trấn Quảng Nam. Tại đây, ông bị giáng chức v́ đă thất bại trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của nông dân ở Chiên Đàn, nhưng được lập công chuộc tội... Năm 1832, ông lại thăng dần lên từ một thuộc viên của Sứ bộ Hạ Châu, lên Hàn lâm kiểm thảo sung nội các hành tẩu, rồi thăng viên Ngoại lang Bộ Hộ (1833), Quyển ấn phủ Thừa Thiên rồi Hồng Lô tự Khanh. Cuối năm, ông được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc. Đi sứ về, ông được thăng Đại lư Tự Khanh coi việc Bộ H́nh và sung Cơ mật viện đại thần (1834). Năm sau, ông được cử làm Kinh lược Trấn Tây, khi về được cử làm Bố chánh Quảng Nam, quyền Tuần phủ quan pḥng.

    Năm 1836, ông bị giáng chức lần thứ hai, v́ đă can ngăn Minh Mạng ngự du vào Quảng Nam với lư do “dân chúng đang lo mùa màng, không tiện cho việc đón rước”. Nhà vua cho ông bê bối công việc và đă dối tấu với triều đ́nh, giáng xuống làm thuộc viên ngay tại chỗ. Nhưng chỉ sau hai tháng, ông lại được thăng ngay Thừa chỉ ở nội các rồi Thị lang Bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần. Năm 1838 do sơ suất kỹ thuật hành chính mà ông lại bị giáng chức lần thứ ba từ Thị lang xuống Lang trung Bộ Hộ. Tiếp đến, ông được sai vào Quảng Nam khai thác vàng, ra Thái Nguyên khai thác bạc. khi việc khai khoáng giao cho người khác lănh trưng, năm 1839 Minh Mạng triệu ông về triều cho lănh chức Phó sứ Thông Chánh ty, cùng năm được thăng Thị lang Bộ Hộ như cũ.

    Phan Thanh Giản từ khi ra làm quan cho tới đây đă 3 lần bị giáng chức, nhưng chưa phải là hết. Năm 1839, từ Thị lang bị giáng xuống Phó sứ Thông Chánh ty v́ ông bị nhà vua kết tội “bè đảng” nhân việc biện bạch cho Vương Hữu Quang khỏi tội. Chỉ một năm sau (1840), tuy vẫn chức cũ ông được cử làm Phó Chủ khảo trường thi Thừa Thiên. nhưng ông lại gặp tai họa lần nữa: bị giáng một cấp do thiếu sót nghiêm trọng trong khi chấm bài thi (bài phú của Mai Trúc Tùng). Như vậy, trong ṿng gần 10 năm (1831 - 1840) ông đă bị giáng chức tất cả 5 lần, tuy thời gian giáng chức không lâu.

    Năm 1840, Thiệu Trị nối ngôi, Phan Thanh Giản được thăng Thị Lang bộ binh rồi Tham tri bộ binh sung viện cơ mật. Bảy năm sau, ông đạt đến địa vị cao trong triều đ́nh: H́nh bộ Thượng thư sung Cơ mật viện đại thần. Năm 1848, vua Tự Đức chuyển ông sang làm Thượng thư bộ lại. Năm 1850, ông được Tự Đức khen thưởng trong khi làm Tây kỳ kinh lược đại sứ và Tổng đốc B́nh Phú. Nhưng năm 1851 - 1853, Phan Thanh Giản (phó sứ) đă làm Nam kỳ Kinh lược sứ, dâng sớ điều trần lên vua, được vua khen ngợi. Riêng Phan Thanh Giản được thưởng tấm kim khánh khắc 4 chữ “Liêm, b́nh, cần, cán”.

    Năm 1853, ông được triệu về kinh phong hàm Hiệp biện Đại học sĩ, Lănh Thượng thư Bộ Binh, sung Cơ mật viện như cũ. Năm 1856, Phan Thanh Giản tṛn 60 tuổi, được nhà vua cử làm Chánh tổng tài Quốc sử quán để soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Cùng năm đó, ông được Tự Đức khen là liêm trực và cẩn thận, thưởng cho công thần của ḿnh một chiếu “bài” bằng ngọc.

    Cuộc đời làm quan của ông từ đây về sau lại phải trải qua nhiều sóng gió hơn chủ yếu do cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Tiếng súng xâm lược đầu tiên của Pháp nổ vào tháng 7/1858 tại Đà Nẵng. Sau khi bỏ cuộc, Pháp chuyển vào đánh và chiếm thành Gia Định (2/1859). Chúng chiếm luôn 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, lăm le uy hiếp cả 3 tỉnh miền Tây. Vua Tự Đức cử Phan Thanh Giản làm Chánh sứ toàn quyền để thương lượng với đại diện Pháp là Bonard. Phan Thanh Giản đă hạ bút kư ḥa ước Nhâm Tuất (1862) với điều kiện vừa mất đất, vừa mất tiền bồi hoàn chiến phí. Không kể nhân dân phẫn nộ, ngay Tự Đức cũng không hài ḷng, khiển trách Phan “hai người không những chỉ là tội nhân của triều đ́nh, mà c̣n là tội nhân muôn đời của hậu thế”. Tuy vậy ông vẫn được giữ chức Tổng đốc Vĩnh Long để tiếp tục “ngoại giao” với Pháp ḥng giành lại những cái đă mất.

    Năm 1863, ông đă là cụ già 67 tuổi. Tự Đức lại cử ông làm Chánh sứ cầm đầu phái bộ sang Pháp, Y - pha - nho để xin trả lại 3 tỉnh miền Đông và thể thức trả chiến phí. Chuyến đi dài ngày của ông bằng đường biển đầy sóng gió cũng như những giọt nước mắt ngắn dài không hề làm lay động và ngăn cản được tham vọng xâm lược của bọn thực dân. Cụ Phan và phái bộ xuống tàu về nước với tâm trạng chán nản. Sau khi về nước (năm 1864), cụ giữ chức Thượng thư Bộ lại như cũ. Cụ được cử làm Toàn quyền đại thần để tiếp tục thương lượng với Pháp về 3 tỉnh miền Đông. Nhưng tham vọng của thực dân quá lớn và lực lượng chúng theo cụ đánh giá là quá mạnh nên cụ đành chịu thất bại lần nữa.

    Năm 1865, cụ Phan dâng sớ xin về hưu - lần thứ hai - nhưng không được vua chấp thuận. T́nh h́nh rối ren, phía Nam buộc Tự Đức phải chọn một người được Pháp tin phục, vừa có tài năng, có nhiệt huyết để đối phó với t́nh h́nh. Người ấy không ai ngoài cụ Phan (theo Tự Đức), cụ được cử làm Kinh lược sứ đại thần. Năm 1866, cụ lại xin về hưu v́ tuổi cao sức yếu, không đương được việc lớn, nhưng nguyện vọng của cụ không được chấp thuận mà c̣n bị quở trách.

    Về phía Pháp, tháng 6/1867, chúng kéo binh thuyền đến Vĩnh Long đ̣i cụ Phan nộp luôn 3 tỉnh miền Tây. Chỉ trong 5 ngày, Pháp đă làm chủ t́nh h́nh 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Sứ mạng mà vua giao cho cụ hoàn toàn đổ vỡ. Cụ chỉ c̣n biết “phải nên chết, không nên sống nữa, đến nổi để điều hổ thẹn cho vua, cha”. Ngày 4/8/1867 sau nhiều ngày nhịn ăn, cụ dùng thuốc độc tự vẫn.

    Ngoài sự nghiệp chính trị, ngoại giao, Phan Thanh Giản có viết một số thơ văn, kư sự, biểu luận, từ vịnh,... Nổi tiếng nhất là tập “Lương Khê thi thảo” có 456 bài (phần I), 39 bài (phần II) và phần phụ 24 bài. Cụ Phan c̣n để lại hai bài văn bia, một ở Văn Xương Các - Vĩnh Long - Soạn năm 1866, và một bài khắc ở văn bia thầy học của cụ là Vơ Trường Toản.

    Hiện nay, tại Văn Thánh miếu thuộc phường 4, Thị xă Vĩnh Long c̣n có bài vịnh thờ cụ Phan. Văn Thánh miếu đă được trùng tu một bước, đang là một di tích văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia. Tại đây c̣n một số cổ vật lịch sử: hai khẩu súng thần công đại bác (tương truyền đă dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860), một văn bia do cụ Phan soạn; một văn bia khác ghi sự tích tu sửa Văn Miếu bắt đầu từ 1915 và một bia khắc lời cúng ruộng vườn cho Văn Miếu của bà Trương Thị Loan (1915).

    Đánh giá nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản trên 100 năm nay thật không biết bao nhiêu lời, tốn không biết bao nhiêu giấy mực nhất là b́nh phẩm về cuộc đời và sự nghiệp của cụ.

    Nguồn: http://www.vinhlong.gov.vn/Default.a...=138&tabid=338

+ Trả Lời Đề Tài

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts