Sự tích Bơ Hậu ở Nước Xoáy

Nguyễn Văn Mậu (? - 1809) c̣n có tên là Hậu, hay c̣n được gọi tôn là Bơ Hậu; là một hào phú đă có công giúp Nguyễn Phúc Ánh, khi vị chúa này đến đây đồn trú để mưu phục lại cơ đồ của ḍng họ.

Ông là người làng Tân Long, thuộc Sa Đéc (nay thuộc xă Long Hưng B, huyện Lấp Ṿ, tỉnh Đồng Tháp). Là một hào phú, ông làm chức tri thâu (thu thuế), được tín nhiệm nên kiêm luôn chức Trùm cả ở làng.

Sau khi đại bại ở trận Rạch Gầm-Xoài Mút đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785, chúa Nguyễn Phúc Ánh đă dẫn tàn quân chạy sang Xiêm La và sống hơn hai năm ở đó. Nhận thấy vua nước này đă không giúp được ḿnh lại c̣n có bụng ghen ghét, bèn để thư lại từ tạ rồi nửa đêm chúa Nguyễn cùng bầu đoàn xuống thuyền về nước (1787).

Về đến Sa Đéc, chúa Nguyễn đă chọn làng Tân Long làm nơi đồn trú, và cho đổi tên làng là Long Hưng. Nơi đây có con rạch chịu áp lực của hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, nên có rất nhiều chỗ nước xoáy cuốn tṛn, v́ vậy dân gian gọi là Nước Xoáy, c̣n trong sử sách gọi là Hồi Oa.

Cũng chính tại đây, chúa Nguyễn đă sai người [1] đi thu phục Vơ Tánh là một trong tam hùng (Đỗ Thành Nhơn, Châu Văn Tiếp, Vơ Tánh). Năm sau (1788), Vơ Tánh đă đem binh gia tướng sĩ của ḿnh từ Giồng Tre (thuộc G̣ Công) về Nước Xoáy hội quân, được Nguyễn Ánh tin dùng phong làm chưởng cơ và gả cho em gái là Nguyễn Thị Ngọc Du (tức Phúc Lộc công chúa).

Trong thời gian ở Nước Xoáy từ tháng 7 năm 1787 đến tháng giêng năm 1788, chúa Nguyễn được ông Mậu và gia đ́nh hết ḷng pḥ trợ. Ông đă tự nguyện mở lẫm lúa và xuất tiền của để chu cấp cho cả đoàn tùy tùng của chúa Nguyễn suốt mấy tháng dài, và c̣n vận động nhiều con cháu và trai tráng trong làng đến đầu quân. Tương truyền, ông Hậu c̣n muốn đưa con gái của ḿnh làm thê thiếp chúa Nguyễn. Không bằng ḷng, cô gái giả điên, thường lấy bùn, lấy lọ bôi lên mặt. Sau, cô gái phát cuồng thật, lâm bịnh rồi qua đời.

Cảm nhận những nghĩa cử của ông, Nguyễn Phúc Ánh gọi ông là "Ông Bơ", có nghĩa là cha nuôi (hay ông tớ già, ngày nay ai muốn hiểu sao th́ hiểu. Lời Vương Hồng Sển). Từ đó, nhân dân trong vùng cũng đă gọi theo là "Ông Bơ Hậu".

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh khôi phục được cơ nghiệp của tổ tiên, lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long. Nhớ đến công lao thuở trước, nhà vua có sắc chỉ mời ông Mậu ra Kinh đô Huế, nhưng ông mượn cớ tuổi già sức yếu xin được miễn ra chầu.

Không ép, nhà vua gửi vào cho ông một bộ phẩm phục, một bộ chén trà hiệu năm Giáp Tư (1804), một số tiền và một sắc phong cho ông tước Đức hầu.

Năm 1809, Nguyễn Văn Mậu qua đời. Vua Gia Long có chỉ truyền cho bộ Công cử người vào xây mộ cho ông và cho cả người con gái vắn số của ông.

Năm 1942, lần đầu tiên, vua Bảo Đại vào thăm Nam Kỳ. Trong thời gian cư ngụ ở Sài G̣n, nhà vua đă ngỏ ư muốn đến viếng Lăng Ông Bơ Hậu. Chánh quyền thực dân Pháp ở Sa Đéc viện cớ là đến Tân Long phải đi tàu máy, rất bất tiện nên từ chối. Thật sự th́ họ không muốn cho vua Bảo Đại có được cơ hội gây cảm t́nh và uy tín đối với dân chúng miền Nam .

Sau, trước cảnh hoang phế của khu mộ này, có người đă làm thơ rằng:

Vào lăng ông Bơ, cám t́nh ông
Thấy cảnh ai không động tấm ḷng?
Đất nghĩa tuyết dầm, mao (meo?) mốc đượm.
Nền nhân sương ấp, cánh hoa vun.
Vầng mây lăm giúp cây tàn lọng,
Ngọn gió đưa giùm tiết đức phong.
Thức nguyệt đánh đèn soi tỏ rạng,
Cho ḷng trời biết chút mồ trung.


Hiện khu mộ vẫn c̣n ở xă Long Hưng B, huyện Lấp Ṿ, tỉnh Đồng Tháp.

Nhắc lại chuyện Bơ Hậu, học giả Vương Hồng Sển viết:
…“Phải biết lúc đó, Nguyễn Lữ đang là trấn tướng vùng Long Xuyên (Cà Mau hiện nay), nếu biết tin Mậu hai ḷng, ắt làm cỏ sạch vùng Nước Xoáy chớ chẳng không. Việc trở cờ theo chúa Nguyễn tỏ ra Mậu có gan dạ và bản lĩnh khác hơn ai.
Phần chúa Nguyễn vừa gặp mặt Mậu là biết ngay "người này dùng được". Khi ấy, chúa sửa tên Mậu lại và Hậu và giao phó việc tiếp tế lương thực. Để tỏ cho biết ḿnh là vua chúa, Nguyễn Ánh ban hay giao cho Hậu một kỷ vật, không ai có, là một cái thố to lớn da kiểu, dạy Hậu từ rày dùng vật ấy để dâng cơm "ngự thiện"...Từ nhà ông Hậu để chỗ đóng binh, đường xa độ ba bốn cây số ngàn, mỗi ngày ông Hậu sai tôi tớ nấu cơm từ khuya bằng chảo đụn lớn, rồi chuyền qua ghe chở lẹ qua Hồi Oa...May cho cái thố ấy, là khi dùng, ông không dùng nắp, cho nên ngày nay nó vẫn c̣n nguyên vẹn. Có lẽ lúc ấy, ông Bơ đă dùng lá chuối, lá sen đậy thay cho nắp...Việc binh bất khả lậu, nên một hôm chúa di binh nơi khác, không kịp thâu hồi cái thố quí, nhưng có lẽ chúa muốn để lại nhà Bơ như là một vật lưu niệm...
Gia đ́nh Bơ Hậu sau này sa sút, và hai vật báu là cái thố bự dâng cơm ngự và bộ chén trà Giáp Tư phải sang tay chủ khác
...(Thú chơi cổ ngoạn, tr. 238. Người mua được hai cổ vật chính là Vương Hồng Sển).

Thông tin thêm:
Định trú đóng ở Tân Long (tức Long Hưng) lâu dài, chúa Nguyễn đă sai đắp một đồn bằng đất, vuông vức khoảng 6 công đất (6.000m2), và đắp hai dăy pháo đài để ngăn pḥng: một làng Tân Long gọi là Bảo Tiền, một ở làng Phong Ḥa gọi là Bảo Hậu. Ngoài ra, chúa c̣n sai quân và dân vận chuyển đất đá xây cản mấy con kênh dẫn vào căn cứ.

Ở đây, chúa Nguyễn thường ra ngồi nơi gốc cây da cạnh mé rạch Long Hưng để câu cá và suy tính t́m mưu chống Tây Sơn. Nhân đó, dân chúng gọi nơi ấy là Cây Da Bến Ngự.

Hiện nay, đồn xưa chỉ c̣n lại là một nền đất gần như phẳng ĺ; cây da th́ đă bị đốn bỏ từ lâu, và nơi câu cá thuở nào giờ cũng đă bị sạt lở xuống sông mất dấu.

Bùi Thụy Đào Nguyên, kể.
Chú thích:
[1] Lần đầu chúa Nguyễn sai Nguyễn Đức Xuyên, lần sau sai Trương Phước Giao, mới thu phục được Vơ Tánh (Huỳnh Minh, G̣ Công xưa, 2001, tr. 12).
Sách tham khảo:
-Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài G̣n, 1968.
-Vương Hồng Sển, Thú chơi cổ ngoạn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.
-Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên tái